Công nghiệp phụ trợ (supporting industries) hay công nghiệp hỗ trợ là khái niệm chỉ toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính. Cụ thể là những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm, v.v..và cũng có thể bao gồm cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế. Sản phẩm công nghiệp phụ trợ thường được sản xuất với quy mô nhỏ, thực hiện bởi các doanh nghiệp nhỏ và vừa.


Trong thực tiễn kinh doanh có 2 cách hiểu về công nghiệp phụ trợ:

– Ở góc độ hẹp, Công nghiệp phụ trợ (CNPT) là các ngành sản xuất phụ tùng, linh kiện phục vụ cho công đoạn lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh;toàn bộ các ngành tạo ra các bộ phận của sản phẩm cũng như tạo ra các máy móc, thiết bị hay những yếu tố vật chất khác góp phần tạo thành sản phẩm. Khái niệm công nghiệp phụ trợ trên thực tế chủ yếu sử dụng trong các ngành công nghiệp có sản phẩm đòi hỏi sự kết nối của nhiều chi tiết phức tạp, tính chính xác cao, dây chuyền sản xuất đồng loạt với các công đoạn lắp ráp tách biệt. Hai ngành công nghiệp hay sử dụng khái niệm công nghiệp phụ trợ là ngành ô tô và điện tử.

– Nếu đặt góc nhìn rộng hơn, công nghiệp phụ trợ phải được hiểu một cách tổng quát như một hình dung về toàn bộ quá trình sản xuất nói chung, chứ không thể bổ dọc, cắt lớp theo ngành hay sản phẩm vì mỗi ngành, mỗi loại sản phẩm đều có những đặc thù riêng và đều có những đòi hỏi ở các mức độ khác nhau về yếu tố phụ trợ.

1. Phân loại

Chúng ta có thể phân loại công nghiệp phụ trợ theo 2 hướng :

Phân loại theo ngành sản xuất:
Các ngành cứng như sản xuất nguyên vật liệu và linh kiện…
Các ngành mềm như thiết kế sản phẩm, mua sắm, marketing quốc tế, viễn thông, vận tải, năng lượng, cấp nước…
Các ngành phục vụ nhu cầu nội địa như thép, hóa chất, giấy, xi măng…

Phân loại từ góc độ doanh nghiệp:
Các nhà cung ứng linh kiện, thiết bị, máy móc ở nước ngoài (import).
Các nhà cung ứng linh kiện, thiết bị, máy móc nước ngoài ở thị trường trong nước (foreign suppliers).
Các nhà cung ứng linh kiện, thiết bị, máy móc ở nội địa (domestic suppliers)

2. Đặc điểm, vai trò của ngành công nghiệp phụ trợ

Trong hoạch định chiến lược và chính sách công nghiệp của một quốc gia, quan hệ giữa một ngành sản xuất công nghiệp với các ngành phụ trợ của nó là vấn đề quan trọng.

2.1. Đặc điểm

– Tỷ lệ của chi phí cho CNPT cao hơn nhiều so với chi phí lao động nên một nước dù có ưu thế về lao động.

– Cơ sở hạ tầng còn bất cập, thủ tục hành chính rườm rà… nguyên nhân cốt lõi là do chính sách phát triển công nghiệp phụ trợ trong nước chưa phát triển đúng mức.

2.2. Vai trò

– CNPT có vai trò rất quan trọng trong việc thu hút dòng vốn FDI vào lĩnh vực công nghiệp, đồng thời kích thích phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước.

– CNPT thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ, áp dụng các kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất. Dưới áp lực cạnh tranh, các công ty CNPT phải tỏ ra có tiềm năng cung cấp linh kiện, phụ liệu với chất lượng và giá thành cạnh tranh được với hàng nhập khẩu. Tiềm năng đó sẽ thành hiện thực nhờ chuyển giao công nghệ từ doanh nghiệp FDI.

– CNPT góp phần tạo công ăn việc làm, thu hút lao động dư thừa trên các địa bàn sản xuất của doanh nghiệp và khu vực lân cận. Mở rộng khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào phát triển công nghiệp.

– Michael Porter (sinh ngày 23/5/1947) là Giáo sư của Đại học Harvard, Hoa Kỳ_nhà tư tưởng chiến lược và là một trong những “bộ óc” quản trị có ảnh hưởng nhất thế giới. Mô hình kim cương của Porter là khối tứ giác gồm: doanh nghiệp (chiến lược, cơ cấu, cạnh tranh), các yếu tố cung, các yếu tố cầu, các ngành công nghiệp bổ trợ và liên quan. Ông cho rằng, những lợi ích từ việc đầu tư vào các yếu tố sản xuất tiên tiến trong các ngành công nghiệp hỗ trợ sẽ lan truyền đến các ngành công nghiệp khác.CNPT góp phần tăng sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp chính và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá theo hướng vừa mở rộng vừa thâm sâu. CNPT không phát triển sẽ làm cho các công ty lắp ráp và những công ty sản xuất thành phẩm cuối cùng khác sẽ phải phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu.

Làm sao ngành công nghiệp phụ trợ Việt nam “cất cánh”


CNPT Việt Nam hiện nay còn đối diện với nhiều khó khăn, thách thức đó là, quy mô và năng lực của các doanh nghiệp CNPT hiện nay còn nhiều hạn chế: Số lượng ít, năng lực sản xuất còn rất thấp, thiếu nguồn lực và công nghệ để nâng cao năng suất, nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu; Các sản phẩm CNPT trong nước chủ yếu vẫn là linh kiện, chi tiết đơn giản, với hàm lượng công nghệ trung bình và thấp, có giá trị nhỏ trong cơ cấu giá trị sản phẩm. Cụ thể, chất lượng sản phẩm phụ tùng linh kiện ôtô cung ứng trên thị trường còn kém; Phần lớn doanh nghiêp CNPT trong nước về CNPT chỉ cung ứng sản phẩm cho lắp ráp ô-tô...

Để phát huy hơn nữa vai trò của ngành CNHT đối với phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam cần chú trọng triển khai một số giải pháp sau:

Thứ nhất, hoàn thiện chính sách phát triển CNPT: Trước mắt, cần điều chỉnh, sửa đổi những quy định còn vướng mắc trong Nghị định số 111/2015/NĐ-CP liên quan đến phạm vi CNPT; làm rõ tiêu chí xác định đối tượng ưu đãi; rà soát, cập nhật và điều chỉnh danh mục các sản phẩm CNPT ưu tiên phát triển phù hợp với nhu cầu thực tiễn. Đồng thời, nghiên cứu ban hành chính sách thúc đẩy một số ngành công nghiệp ưu tiên phát triển như: Cơ khí, ô tô, dệt may, da – giày, điện tử; nghiên cứu chiến lược hỗ trợ xuất khẩu đối với các sản phẩm công nghiệp trọng điểm… nhằm tạo thị trường cho các ngành CNPT phát triển, bao gồm các chính sách về thị trường, phòng vệ thương mại và các chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho doanh nghiệp.

Thứ hai, bố trí đủ nguồn kinh phí sự nghiệp nhằm thực hiện Chương trình phát triển CNPT được phê duyệt tại Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày 18/1/2018 của Thủ tướng Chính phủ để triển khai hiệu quả các nội dung hỗ trợ các doanh nghiệp CNPT trong nước. Đồng thời, khuyến khích các địa phương xây dựng các chính sách, chương trình phát triển CNPT riêng, đầu tư các nguồn lực trên địa bàn, gắn với việc tuyên truyền, phổ biến các chính sách CNPT đến các DN trên địa bàn để doanh nghiệp tiếp cận đầy đủ các chính sách của Nhà nước.

Thứ ba, xây dựng các gói tín dụng ưu đãi cho phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên và CNPT có thời hạn đến năm 2025.

Thứ tư, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến thông tin về chính sách phát triển CNHT để thu hút đầu tư nguồn lực xã hội vào phát triển CNPT; Xây dựng cơ sở dữ liệu về các doanh nghiệp CNPT Việt Nam và cụm liên kết nhằm thúc đẩy kết nối giữa nhà cung cấp Việt Nam và các tập đoàn đa quốc gia có nhu cầu tìm kiếm nhà cung cấp tại Việt Nam; Triển khai hiệu quả các chương trình kết nối kinh doanh, liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp đa quốc gia, các công ty sản xuất, lắp ráp trong nước và nước ngoài; Xúc tiến kết nối đầu tư tại thị trường các nước mà Việt Nam đã ký kết các hiệp định thương mại tự do nhằm đa dạng hoá và mở rộng thị trường xuất khẩu nhằm tạo cơ hội thị trường cho các sản phẩm CNPT…

Thứ năm, tăng cường tư vấn, tìm kiếm, giới thiệu và hỗ trợ chuyển giao các công nghệ sản xuất hiện đại; hỗ trợ xây dựng, áp dụng các hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng suất chất lượng tiên tiến cho các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm CNPT trong nước, góp phần nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hàng hóa, hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp CNPT.

Nguồn Internet

Post a Comment

Mới hơn Cũ hơn

Công Nghệ